TRUNG HOA THẬP ĐẠI DANH KHÚC

 

Sáng thứ Bảy, ngồi nhâm nhi một ly cà phê đá tự làm, cũng lại nhâm nhi một cái bánh quy có lẽ đến trưa mới xong. Dạo này mình ăn ít quá, một cái bánh quy cũng phải ăn từ sáng tới tận gần bữa trưa. Ăn cái gì cũng chấm mút. Thời hoàng kim có thể ăn tất cả những gì làm ra, hay để trên bàn ăn, đã qua rồi.

Đã bao nhiêu hôm cứ nằm xuống, rồi thấy không tin tưởng một cái gì, mình lại nhìn lên trần nhà. Trần nhà trăng trắng xam xám phản chiếu một ánh đèn màu vàng từ khu nhà khách quân đội bên kia đường sang. Ánh đèn đó lại qua một lần lớp rèm mỏng nơi cửa sổ của mình nữa, cái rèm màu xanh cốm mà khi được đèn chiếu vào thì như màu đỗ xanh. Những vệt sáng như màu đỗ xanh đó in trên nền trắng của trần nhà, bị chia cắt. Nhìn ra bên ngoài, nếu không tự ý thức được đó là đêm thì có thể không biết đó là đêm. Lúc nào cũng có thứ ánh vàng đó, thứ ánh vàng mà mình tưởng tượng khi có chiến tranh. Nó làm mình nhớ đến cảnh thành phố Atlanta cháy trong Gone with the wind. Có những đêm như thế mình nghĩ mình sẽ vùng dậy và mô tả về cái rèm, nhưng cơn lười chiến thắng, và mình nằm đó, quay mặt vào tường, cuối cùng cũng ngủ và mơ những giấc mơ lạ có những nhân vật không hề ăn nhập với cảnh huống và tình tiết truyện. Người thì thật, nhưng chuyện thì lại ở đâu, như trong Nghìn lẻ một đêm.

Trước khi ngủ mình còn tự dặn sáng hôm sau sẽ dậy thật sớm để ngồi mô tả về ánh vàng đó và cái rèm đó trước khi bước chân ra khỏi nhà. Thế mà nhiều hôm mình đã bước chân ra khỏi nhà mà không mô tả cái rèm.

Hôm nay trời nắng đẹp, và cái rèm có màu đỗ xanh, thứ đỗ xanh đã bóc vỏ, ngâm và nấu và đánh nhuyễn.

Nhiều đêm trong những đêm ấy, mình mở trọn 10 bản Trung Hoa thập đại danh khúc. Có một cái gì đó thực sự đáng sợ trong những bản nhạc ấy. Nó cô lập người ta, cô lập người ta nhưng lại khiến người ta có thể có cảm giác mình là một cái gì thuộc về đất nước Trung Hoa, một cái gì mang nặng lịch sử đất nước đó, tư tưởng của đất nước đó, cái định kiến và cái khổ sở của con người nước đó bao lâu nay. Mình cứ nghĩ đến một người mang cây đàn tranh, tiêu hay đàn tì bà lên một ngọn núi cao, từ đó nhìn ra dãy núi trùng trùng điệp điệp đến ngút mắt, một ngọn núi có nhiều cây cổ thụ, rồi ngồi xuống, và dạo một bản nhạc nào đó.

Em có đôi mắt trong, sâu thẳm như hồ nước cuối thu đầu đông, nó mang một vẻ gì đó hoang dại, buồn, một cái buồn có phần mơ mộng, nó không yếm thế, mà trong cái buồn ấy còn ẩn chứa một cái gì đó vui vẻ, ở sâu bên trong. Tôi biết mình yêu một vẻ đẹp hoang dại, và tôi có thể yêu em chỉ vì ánh mắt ấy.

Thỉnh thoảng mình lại nhớ đến cái cửa sổ cũ kỹ và bị bung một mảng ở nhà cũ. Lúc trời mưa, nước sẽ hắt qua chỗ vỡ đó tràn vào nhà. Mình nhớ rất rõ không gian ấy, cái mùi của nó. Nó có một cái gì đó am ám, một cái gì đó dính lại đằng sau, không ổn.

So far the nights feel lonelier than the days.

In light, the living keep me company,

and memories of voices through the years.

 

Each summer threads a green familiar maze.

Emerging sun-struck, you can barely spy

the slow kaleidoscope of clouds and hours.

 

Those flannel nightshirts chilly sleepers wear

as summer wanes: I’m giving them away.

Pass it on: you keep at the same time.

 

A bough has broken from the Duchess tree.

Rain swelled the apples. Too much lightness weighs

heavy: the heft of the idea of home

tempered with the detachment of a dream,

or tidal pulls, like ocean, like moonrise.

-Rachel Hadas, Summer Nights and Days, 1948

Để lại lời bình

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s