CHIẾN LƯỢC CỦA AUSTRALIA


Đăng ngày 22/05/2012 | 0900 GMT trên STRATFOR

George Friedman

Australia là một trong những nước giàu nhất thế giới, nằm trong top 10 nước có GDP trên đầu người cao nhất. Là một trong những nước cô lập nhất trên thế giới, lại chiếm toàn bộ một châu lục, Australia là nước rất khó xâm lược, và cũng hiếm khi bị đe dọa. Bình thường chúng ta sẽ không nghĩ một nước giàu có và biệt lập như thế lại tham gia vào nhiều cuộc chiến tranh. Tuy thế điều đó lại không đúng với Australia, và càng thú vị hơn là sẽ chẳng bao giờ đúng, dù là có dưới chính quyền nào chăng nữa. Ý thức hệ không thể giải thích được hiện tượng này.

Từ năm 1900, Australia đã tham gia vài cuộc chiến tranh cũng như can thiệp quân sự hay an ninh ở nhiều nơi khác (trong đó có Chiến tranh Boer, Chiến tranh Thế giới thứ I, Chiến tranh Thế giới thứ II, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, Afghanistan và Iraq) kéo dài tổng cộng khoảng 40 năm. Nói một cách khác, Australia đã tham gia chiến tranh hơn một phần ba thời gian từ khi Liên bang Australia ra đời năm 1901. Tuy vậy chỉ duy nhất trong một cuộc chiến, là Chiến tranh Thế giới thứ II, an ninh của nước này mới thực sự bị đe dọa, và thậm chí khi ấy phần lớn chiến sự cũng diễn ra ở những nơi như Hi Lạp và Bắc Phi chứ không phải trực tiếp diễn ra trên lãnh thổ Australia. Điều này khiến chúng ta phải đặt ra câu hỏi rằng vì sao một nước giàu có và có vẻ là an toàn như Australia lại tham gia vào nhiều xung đột đến vậy?

Tầm quan trọng của đường biển

Trước tiên cần hiểu rằng tình trạng cô lập không hẳn đã mang lại cho nước này an toàn. Xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng thô, đóng vai trò vô cùng quan trọng với Australia. Từ len xuất khẩu sang Anh năm 1901 đến quặng sắt xuất sang Trung Quốc ngày nay, Australia đều phải xuất khẩu để chi cho việc nhập các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ vượt quá mức sản xuất của dân cư nước này. Không có thương mại, Australia không thể duy trì mức phát triển kinh tế và đạt được mức sống cao như hiện nay.

Thực tế này dẫn tới vấn đề chiến lược của Australia. Để duy trì nền kinh tế của mình nước này buộc phải giao thương, và với vị trí của mình, việc giao thương phải được thực hiện qua đường biển. Bản thân Australia lại không có vị thế để bảo vệ an ninh đường biển của mình vì kích thước dân số và vị trí địa lý. Vì thế Australia gặp phải hai trở ngại. Thứ nhất, nước này phải duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thế giới với những mặt hàng xuất khẩu của mình. Thứ hai, nước này phải đảm bảo rằng hàng hóa của mình tới được các thị trường trên. Nếu như đường biển bị cắt hoặc gián đoạn thì nền tảng của nền kinh tế Australia sẽ bị đe dọa.

Hãy tưởng tượng Australia là một sinh vật mà hệ thống tuần hoàn chủ đạo lại nằm ngoài cơ thể. Một sinh vật như thế sẽ đặc biệt dễ bị tổn thương và do đó buộc phải phát triển các cơ chế phòng vệ đặc biệt. Thách thức này là kim chỉ nam cho chiến lược của Australia.

Thứ nhất, Australia phải liên minh với – hoặc ít nhất là không đối đầu với – một cường quốc biển hàng đầu. Trong giai đoạn đầu trong lịch sử Australia thì đó là nước Anh. Sau này là nước Mỹ. Sự phụ thuộc của Australia vào thương mại hàng hải đồng nghĩa với việc nước này không bao giờ có thể đối đầu với nước kiểm soát hoặc quản lý đường biển; Australia không thể cho cường quốc hàng hải toàn cầu ấy bất cứ lý do nào để can thiệp vào quyền tiếp cận các con đường trên biển ấy của mình.

Thứ hai, và cũng là nhiệm vụ khó khăn hơn, là Australia cần khiến cho các cường quốc biển ấy bảo vệ lợi ích của mình một cách tích cực hơn. Chẳng hạn, giả sử con đường nào đó Australia phụ thuộc vào để chuyển hàng hóa của nước này đến khác hàng có các điểm kiểm soát nằm ngoài khả năng ảnh hưởng của Australia. Tiếp nữa, giả sử là cường quốc hải quân nọ lại không có lợi ích trực tiếp ở điểm kiểm soát đó. Australia phải có khả năng thuyết phục cường quốc kia về tầm quan trọng của việc giữ cho con đường ấy thông suốt. Chỉ riêng việc giữ quan hệ hòa hảo không thôi chưa đủ. Australia phải khiến cường quốc đó phụ thuộc vào mình, vì thế nước này phải có cái gì đó để nhử hoặc cò kè nhằm định hình cách hành xử của cường quốc kia.

Thiết lập sự phụ thuộc

Các cường quốc hàng hải toàn cầu thường xuyên dính vào xung đột – thường là xung đột khu vực và đôi khi là xung đột toàn cầu. Lợi ích toàn cầu làm tăng khả năng xung đột, và cường quốc ấy reo rắc nỗi sợ hãi. Luôn có một nước có lợi ích nào đó trong việc tái định hình cân bằng quyền lực, dù là để tự vệ hay để đòi hỏi nhượng bộ từ cường quốc kia.

Một đặc điểm khác nữa của các cường quốc toàn cầu là các nước đó luôn tìm kiếm đồng minh. Một phần là vì các lý do chính trị, nhằm tạo ra khuôn khổ để điều chỉnh lợi ích của mình một cách hòa bình. Đó cũng là vì lý do quân sự. Vì các cường quốc luôn có xu hướng dính líu đến chiến tranh nên họ luôn cần thêm lực lượng, căn cứ và nguồn lực. Một quốc gia có đóng góp cho các cuộc chiến của các cường quốc toàn cầu cũng có cơ sở để đảm bảo các nhượng bộ và lợi ích. Với một nước phụ thuộc vào đường biển để tồn tại như Australia thì khả năng có được cam kết bảo vệ lợi ích từ một cường quốc là nhân tố sống còn.

Việc triển khai lực lượng trong Chiến tranh Boer một phần dựa vào ý thức hệ của Australia với tư cách là thuộc địa của Anh, nhưng trên thực tế Australia có rất ít lợi ích trực tiếp trong cuộc chiến này. Hành động đó cũng dựa trên việc Australia nhận thấy rằng nước này cần sự ủng hộ của nước Anh với tư cách bảo hộ cho an ninh của mình. Cách lý giải tương tự cũng có thể áp dụng cho chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, Iraq và Afghanistan. Australia có thể có lợi ích về mặt ý thức hệ nào đó trong những cuộc chiến tranh này, nhưng an ninh quốc gia của nước này thì chỉ có can hệ chút ít mà thôi. Tuy nhiên, việc Australia tham gia vào các cuộc chiến này khiến cho Mỹ lại phụ thuộc vào nước này trên một mức độ nào đó, và từ đó kéo Mỹ bảo vệ lợi ích của Australia

Cũng có những cuộc chiến có thể kết thúc với một cuộc chuyển giao của hệ thống toàn cầu. Chiến tranh Thế giới thứ I và thứ II là nỗ lực của các cường quốc nhằm phá bỏ trật tự thế giới có sẵn và thay thế nó bằng một hệ thống khác. Australia nổi lên từ trật tự chính trị cũ, và nước này coi quan điểm của trật tự mới vừa khó dự đoán vừa tiềm ẩn nguy cơ. Việc Australia tham gia vào các cuộc chiến nói trên một phần vẫn là để khiến các cường quốc khác phụ thuộc vào mình, nhưng mặt khác cũng là nhằm duy trì một hệ thống thế giới có lợi cho Australia. (Trong Chiến tranh Thế giới thứ II còn có một yếu tố tự phòng vệ nữa: Australia cần tự bảo vệ mình trước Nhật Bản và đồng thời từ một Thái Bình Dương bị Nhật kiểm soát và có khả năng là cả Ấn Độ Dương.)

Chiến lược nào cho Australia?

Australia vẫn thường lung lạc bởi ý tưởng rời xa cường quốc toàn cầu và xích lại gần hơn với các khách hàng của mình. Điều này đặc biệt đúng kể từ khi Mỹ thay thế Anh trên cương vị cường quốc hàng hải toàn cầu. Trong giai đoạn sau Chiến tranh Thế giới thứ II, khi hoạt động kinh tế ở châu Á ngày một tăng, nhu cầu của châu Á đối với nguyên liệu thô của Australia cũng tăng, từ thực phẩm cho đến quặng công nghiệp. Đầu tiên là Nhật, sau đó là Trung Quốc lần lượt trở thành bạn hàng chủ đạo của Australia.

Australia có lựa chọn (trừ việc cô lập vốn sẽ không thể giúp nước này duy trì nền kinh tế) là phá bỏ hoặc hạn chế quan hệ với Mỹ và tăng cường dựa an ninh quốc gia của mình vào Nhật Bản hoặc, sau này là Trung Quốc. Trên lý thuyết Trung Quốc là cường quốc đang nổi và là nhân tố thiết yếu cho lợi ích của Australia vì các loại hàng hóa nhập khẩu, những hàng nhập khẩu mà nước này có thể đảm bảo từ các quốc gia khác. Cái giá của quan hệ với Mỹ –  việc dính líu đến các xung đột của Mỹ – là rất cao. Vì thế, lựa chọn chiến lược này sẽ hạn chế sự nô dịch của Australia trước nhu cầu của Mỹ trong khi củng cố quan hệ của nước này với bạn hàng chính Trung Quốc.

Nhìn vẻ ngoài thì chiến lược này có vẻ có lý, nhưng có hai lý do mà Australia, mặc dù đã xem xét chiến lược này nhưng lại không theo đuổi nó. Đầu tiên là ví dụ của Nhật Bản. Nhật Bản có vẻ là một cường quốc kinh tế năng động, chắc chắn. Nhưng trong thập niên 1990, Nhật Bản đã thay đổi cách hành xử và mối quan tâm đến hàng hóa của Australia chững lại. Quan hệ kinh tế phụ thuộc vào sức mua của khách hàng, và phụ thuộc vào vòng chu chuyển thương mại, sự ổn định chính trị, v.v… Chiến lược tạo ra mối quan hệ đặc thù giữa Australia và Nhật Bản sẽ nhanh chóng trở nên khóa hài hòa các bên. Nếu Trung Quốc đang trong giai đoạn suy thoái kinh tế như chúng ta vẫn nghĩ thì thiết lập quan hệ chiến lược với Trung Quốc sẽ lại là một sai lầm, hoặc ít ra thì cũng là một ván bài may rủi.

Lý do thứ hai khiến Australia không thay đổi chiến lược của mình là vì dù quan hệ với Trung Quốc và Nhật Bản có như thế nào chăng nữa thì các con đường trên biển vẫn đang nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ. Nếu có xung đột với Trung Quốc, Mỹ ắt sẽ lựa chọn đóng cửa các tuyến đường đó thay vì là bảo đảm cho Australia. Rốt cuộc thì Australia có thể xuất khẩu hàng tới nhiều nước nhưng phải luôn sử dụng các tuyến đường hàng hải. Vì thế nước này đã kiên trì chọn mối quan hệ với Anh hay Mỹ chứ không phải là xích lại với một khách hàng hay một khu vực nào.

Australia đang ở vào tình thế vô cùng nguy hiểm, mặc dù bề ngoài thì có vẻ là rất an toàn. Nước này hoặc là liên minh với Mỹ và chấp nhận cái giá phải trả về mặt quân sự của lựa chọn này, hoặc là cam kết xích lại châu Á nói chung và Trung Quốc nói riêng. Cho đến khi một cường quốc châu Á có thể đảm bảo cho các con đường giao thương trên biển chống lại Mỹ – thời điểm còn trong tương lai rất xa – thì việc chọn con đường thứ hai (xích lại với châu Á và Trung Quốc) là vô cùng nguy hiểm. Thêm vào đó là mối quan hệ này sẽ phụ thuộc vào tương lai bất định của nền kinh tế châu Á – và tất cả tương lai kinh tế giờ đây đều là không chắc chắn – vậy nên Australia đã lựa chọn cách tiếp cận ít rủi ro hơn.

Cách tiếp cận này có ba thành tố. Thứ nhất là thắt chặt mối quan hệ kinh tế với Mỹ nhằm cân bằng sự phụ thuộc kinh tế vào châu Á. Thứ hai là tham gia vào các cuộc chiến tranh do Mỹ phát động nhằm lôi kéo sự đảm bảo của Mỹ trên các con đường biển. Cuối cùng là xây dựng lực lượng trong khu vực nhằm đối phó với các sự biến gần bờ biển Australia, từ quần đảo Solomon qua quần đảo Indonesia. Nhưng ngay cả thế thì lực lượng Australia vẫn cần dựa vào sự hợp tác với Mỹ để đối phó với các nguy cơ.

Vì thế chiến lược của Australia bao gồm liên minh với cường quốc biển hàng đầu, đầu tiên là Anh và sau này là Mỹ, và tham gia vào các cuộc chiến tranh của những nước này. Tại sao một nước giàu có và an toàn như Australia lại tham gia vào nhiều cuộc chiến tranh đến vậy? Câu trả lời là vì sự thịnh vượng của đất nước này không được bảo đảm như bề ngoài có vẻ thế.

Đọc bản gốc tại: http://www.stratfor.com/weekly/australias-strategy?utm_source=freelist-f&utm_medium=email&utm_campaign=20120522&utm_term=gweekly&utm_content=readmore&elq=643f381a981a4d9cb78bc4c4428f3d72

Để lại lời bình

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s