30 TẾT

–         “Bờm ơi, Bờm. Dậy đi. Hơn tám giờ rồi. Dậy đi còn chụp ảnh, chiều chợ tan chẳng còn gì mà chụp đâu.” Mẹ tôi lớn tiếng gọi trong khi tôi uể oải mở mắt, vẫn còn lưu luyến hơi ấm của tấm chăn. Khi còn đi học, tám giờ sáng với tôi là quá sớm, nhưng về nhà rồi, khi mà cả bố và mẹ đều dậy lúc 6h sáng, thì 8h coi như là đã “vượt chuẩn.”

Tôi đã định sẽ đi chợ ngày 30 Tết, để ngắm đường, ngắm người, và chụp ảnh. Sau một hồi ăn sáng và uống cà phê, rốt cuộc tôi cũng có thể bước ra khỏi nhà. Đi lang thang, chụp một vài tấm ảnh trên đường đi luôn khiến tôi cảm thấy thoải mái. Thật ra tôi cũng chỉ mới có máy ảnh thôi, nhưng tôi đã coi nó như một người bạn, thậm chí bạn lâu năm. Tôi có sở thích chụp ảnh từ lâu. Nói đúng ra là ham muốn lưu lại những khoảnh khắc. Nếu như có thể lưu lại bằng câu chữ thì tất nhiên cũng tốt, nhưng lại không thể làm thế. Vì không phải lúc nào cũng có thể bỏ bút giấy ra mà viết.

Một đôi lúc tôi vẫn nhớ đến David Henry trong “The Memory Keeper’s Daughter” của Kim Edwards, và tôi nghĩ mình yêu thích chụp ảnh cũng theo cái cách ấy.

Tôi chụp gần như tất cả những thứ mình gặp trên đường: con trâu; lũ trẻ con chơi trên đám ruộng đã gặt, chỉ còn trơ gốc rạ; người bán rau; cây quất, cành đào ngày Tết; mùi thịt tươi sống; mùi cá khô; mùi chua chua của chợ sộc vào mũi và bùn nhớp nháp dưới chân. Tất cả chúng làm tôi nhớ lại những ngày bé, mẹ để tôi ngồi trên xe đạp thong dong khắp chợ. Ngày ấy bé quá, tôi vẫn chưa biết chợ là gì, chỉ thích được ngồi trên chiếc ghế em bé được mẹ đưa đi khắp nơi. Thế là sướng cười tít mắt. Tôi nghĩ dù đi đâu chăng nữa, tôi sẽ vẫn muốn Tết như bây giờ, ren rét, đông đúc. Tôi vẫn muốn ngửi thấy đâu đó trong không khí mùi chua chua của chợ quê, mùi tanh của cá và mùi thịt sống như tôi ngửi thấy hôm nay.

Tôi đi tiếp, và nghĩ. Đầu óc tôi hoạt động nhiều nhất trong lúc tôi di chuyển. Tôi nghĩ trong lúc đi, tưởng tượng trong lúc đi, và cả mơ. Tôi nghĩ đến Zet (tên Facebook cũ của bạn ấy, giờ thì bạn ấy đã chuyển sang dùng tên thật.) Khi đang loanh quanh chụp ảnh ở chợ, tôi đã gọi cho bạn ấy. Vì đơn giản trong một giây nhớ đến bạn ấy. Bạn ấy từ chối gặp. “Tớ bận,” bạn ấy đáp cụt ngủn rồi cúp máy. Vậy là tôi đi một mình, lang thang đi qua những con đường hai năm trước tôi và Zet cùng đi. Tôi đi qua cả khu nhà của T, người tôi thích hồi còn học cấp 3. Định gặp nhau, nói vài chuyện đùa vui với T, hỏi thăm tình hình. Thế mà mọi thứ kết thúc chỉ với một bức ảnh. Khu ấy đã thành khu nhà hoang từ khi nào. Giờ chỉ còn trơ lại vài khúc gỗ. Trời về chiều ngày càng lạnh giá khiến khung cảnh thêm tiêu điều, quạnh quẽ.

Tôi vẫn đi.

Tôi tự hỏi vì sao Zet vẫn luôn là người từ chối? Tôi chưa từ chối Zet cái gì, hay là vì tôi chưa bao giờ thực sự bận? Đã bao nhiêu lần Zet nói chia tay, rồi quay lại? Người ta chỉ nên nói chia tay một lần, rồi quay lại với nhau. Sau nhiều lần nói rồi lại quay lại, thứ tồn tại giữa hai người sẽ chẳng thể gọi là tình yêu được nữa. Tôi cảm nhận thấy sự nặng nề của nó, sự kì thị trong cách nhìn của Zet. Dần dần, những thứ mà tôi có thể chia sẻ với Zet cũng ít đi, và những cuộc đối thoại cũng ngắn hơn nhiều. Chúng tôi đã biến tình yêu thành tình bạn như thế. Có lẽ, chúng tôi thuộc về hai thế giới hoàn toàn khác nhau, hai thế giới khó có thể hoà nhập để trở thành thứ có thể nuôi dưỡng tình yêu.

Tôi lại nhớ đến Cầu Vồng trong khi mũi chảy nước và má đỏ ửng lên vì gió mùa. Gió mùa ở miền sơn cước lạnh lắm. Cả Zet và Cầu Vồng đều bảo tôi rằng:”Có duyên nhất định sẽ gặp lại.” Tôi thì không tin lắm. Đến gọi điện hẹn gặp còn không thể gặp được thì đợi bao giờ để cái “duyên” ấy đến? Ước muốn của con người mới là quan trọng. Phải muốn gặp, thực sự muốn gặp. Hai mùa hè trước tôi về nhà, và chẳng lần nào “tình cờ” gặp Zet. Thế giới, thật ra không bé, mà Trái Đất cũng không tròn. Không “hữu ý” thì khó mà “vô tình” đụng nhau trên đường.

Một cụ già đã nhờ tôi chụp giúp một bức ảnh khi thấy tôi đang chăm chú một góc chụp cảnh “đời sống” ở chợ. Tôi chụp, và chào cụ lễ phép rồi rảo bước. Khi về đến nhà tôi mới thấy tiếc vì đã không hỏi địa chỉ liên lạc của cụ để gửi ảnh, hoặc đơn giản hơn là cho cụ địa chỉ liên lạc của tôi. “Tôi đang làm gì, và ở đâu khi cụ già qua đời?”, tôi tự hỏi. Và buồn hơn là, tôi sẽ không bao giờ gặp lại cụ nữa. Tôi sẽ chẳng hề biết gì về cái chết của cụ.

Tôi nhớ đến hai năm tôi mất liên lạc với Zet (vì cậu muốn thế) và thử tưởng tượng khi tôi mất HOÀN TOÀN liên lạc với Cầu Vồng. “Cầu Vồng có chết trong khoảng thời gian đó không?” tôi tự hỏi, nhưng lần này lại không muốn tự trả lời. Tôi không biết, và không muốn nghĩ đến.

Đi qua “Đồi tròn” (cái tên bọn trẻ chúng tôi vẫn gọi phân trường tiểu học của tôi. Gọi thế vì quả đồi có hình tròn, rất tròn. Tròn như nửa quả bóng vậy.), tôi chợt nhớ đến những năm học tiểu học. Hồi ấy tôi có một người bạn thân, tên K. Ban đầu tôi ấn tượng với bạn vì tên của bạn giống tên tôi. Chúng tôi kể cho nhau nghe những bí mật của bọn trẻ con. Chúng tôi cùng nhau làm một cái hố, chôn những đồ vật “quý giá” của cả hai đứa. Rồi còn trồng cả một vườn đỗ xanh nhỏ xinh sau lớp học nữa. Giờ tôi vẫn đi trên con đường ấy, cố gắng nhìn vào khuôn viên trường được bao kín bởi một bức tường cao mong có cơ may nhìn thấy đám đất ấy. Thế rồi cũng chẳng thể thấy. Tôi chỉ có thể tưởng tượng ra mảnh đất giờ đây đã nằm dưới những lớp học mới, tưởng tượng ra những cây đỗ xanh mới nảy mầm. Ảnh, không chỉ giúp người ta lưu giữ kí ức mà còn giúp người ta làm sống lại kí ức nữa.

Tôi còn nhớ hồi ấy tôi đã tả K cho đề bài văn “Em hãy tả đồ vật em yêu quý nhất và người bạn thân nhất của em.” Tôi đã chọn viết về chiếc đồng hồ đeo tay của tôi, và về K. Đó là bài văn đầu tiên, và có lẽ, duy nhất của tôi được điểm 10. Cô giáo đã chọn đọc bài đó trước lớp. Tôi còn nói với K rằng:”Mãi chơi cùng nhau nhé!”

Thế rồi mùa hè đến, chúng tôi lên học cấp 2, mỗi người một lớp. Và tự nhiên chúng tôi chẳng còn chơi với nhau nữa. Không một lần cãi nhau, cũng chẳng có lý do gì cả. Đơn giản là không chơi với nhau nữa, thế thôi. Tôi cứ đứng yên đó, chẳng làm gì cả. Có lẽ, chúng ta cũng nên luôn thay đổi khi thế giới thay đổi. Tôi thở dài và chợt nghĩ mình cũng đã mất nhiều người bạn như thế. Rồi tôi cũng cố kiếm một cái cớ cho mình, để lý giải cho cái sự việc từ hồi nảo hồi nào ấy, rằng con trai thì chỉ cần biết tình hình của nhau, lặng lẽ mong cho người kia mọi điều tốt đẹp, chứ chẳng cần phải quấn quýt, ôm ấp tay bắt mặt mừng như con gái. Âu cũng là hợp lý. Hợp lý trong cái bất hợp lý trong hành động của tôi, trong cái cách tôi tương tác với những người bạn của mình, và làm mất họ. Bây giờ gặp lại, tôi đồ rằng chính tôi cũng không thể phá vỡ cái vỏ bọc do chính mình tạo ra, và giữa chúng tôi sẽ là những câu hỏi-đáp nhạt nhẽo và khách sáo. Tôi thực sự không muốn gặp lại họ.

Tôi sẽ bọc họ lại trong một thứ hổ phách – trí nhớ – trí tưởng tượng của riêng tôi. Họ sẽ ở đó, mãi bé như thế, và ngây thơ, và tự nhiên, và đẹp đẽ.

Tôi nhẹ bấm máy, một tiếng “tách” nho nhỏ phát ra, và con đường cùng đường hầm hiện ra trong khung hình, bất động, 3 giây.Còn nhớ đó là con đường đến trường tiểu học của tôi. Ngày trước cứ mưa là lầm bùn, học sinh chúng tôi phải mang đá dăm tới đổ. Hồi ấy cũng là thời chúng tôi mang đuôi chuột đến trường nộp để tính điểm thi đua cá nhân trong cuộc vận động diệt chuột. Vui lắm. Về nhà lũ trẻ con tranh nhau đi bẫy chuột, bẫy được rồi lại chặt lấy đuôi. Đứa nào kiếm được những cái đuôi to thì tự hào lắm, có khi còn vui hơn được phiếu bé ngoan lúc đi học mẫu giáo ấy. Đến lúc chính phủ làm đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn chạy qua đây, đoạn đường đi học qua ruộng ấy có thêm cái “hầm” chạy ngay dưới đường cái. Hồi cái hầm ấy mới được khánh thành, lũ trẻ con chúng tôi rất khoái đi dưới đó, cứ chạy đi chạy lại mãi. Tự nhiên tôi lại nhớ lại lúc bé tí cứ thích chui vào cống chơi, đi qua đến đầu bên kia lại cứ nghĩ là đến được một thế giới mới. Trẻ con là thế, luôn có cách để thi vị hoá những thứ nhỏ bé xung quanh chúng, cổ tích hoá những hành động chúng làm. Tôi, tất nhiên, cũng từng là một đứa trẻ.

Trên đường về, tôi cố chụp nốt vài bức ảnh trước khi trời tối, khi chẳng đủ ánh sáng cho cái máy ảnh cùi của tôi nữa. Đoạn tôi đầu hàng, đút tay vào túi, lững thững ra về. Nhiều người trong làng lướt qua tôi như chưa từng quen biết. Tôi thoáng buồn, nhưng cũng hết ngay vì thấy mình may mắn khi đóng vai trò như một chiếc camera di động, vô hình, đi khắp nơi, ngó vào tất cả mọi hoạt động của mọi người. Bảy năm không dài so với đời người, nhưng đủ để người ta quên đi một người. Một chiếc xe ô tô lướt qua tôi thật gần, tôi bị chói mắt bởi ánh đèn xe. Rồi trong chốc lát tôi nghĩ mình sẽ lao vào giữa hai chiếc đèn đó. Rồi đứng ngoài rìa, nhìn mọi người khóc. Mọi chuyện sẽ xảy ra gần giống giấc mơ của tôi hai tuần trước, trong đó tôi chết trong tai nạn xe máy khi đang đi với Zet! Tôi vẫn luôn nghĩ những giấc mơ của tôi sẽ không bao giờ đưa tôi vào deja vù nếu tôi nói chúng ra. Và tôi đã nói về giấc mơ đó với Cầu Vồng.

Tôi tiếp bước, nghĩ rằng mấy ngày Tết tôi sẽ chẳng đi đâu, tắt điện thoại nữa. Những nơi cần đi đã đi rồi, những người cần gặp cũng gặp rồi. Hiện giờ có thể tôi không muốn, và không sẵn sàng gặp Zet. Tôi không biết phải nói gì với Zet.

Tôi muốn chụp ảnh bãi đất và bể nước mà hồi bé tôi vẫn hay chơi ở đó.

Tôi lại lia mắt ra nhìn những rặng núi tím thẫm trong ráng chiều, những cành cây rung rinh trong gió mùa mới về, mưa bắt đầu bay lất phất.

Lạnh. Mỏi chân.

Tôi bất giác giật mình tự hỏi:”Liệu tôi có đủ dũng cảm để ra đi? Đánh đổi tất cả những thứ thân thuộc này lấy một cái gì đó mơ hồ tôi chưa từng biết đến?” Rồi tôi lại tự trả lời chính mình:”Sống là để đi, và ra đi là để trở về.”

Để lại lời bình

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s