CHIẾN LƯỢC: “NGOẢNH MẶT LÀM NGƠ”

Bản chất của Washington là can thiệp vào Trung Đông. Nhưng hãy kiềm chế ham muốn.

Làn sóng nổi dậy bao trùm thế giới Ả Rập đặt ra cho Mỹ hai sự lựa chọn. Washington có thể đi theo trào lưu của những thay đổi ở đây, đứng ngoài lề và chấp nhận bất cứ kết quả nào. Hoặc là nước Mỹ có thể can thiệp vào Trung Đông, dấn thân nhằm thay đổi tình hình ở đây. Nếu lựa chọn con đường thứ hai, Mỹ hoàn toàn có thể lấy lại được quyền uy của mình, chưa kể đến khả năng mở rộng phạm vi ảnh hưởng ý thức hệ. Tuy nhiên, xét trong thời điểm hiện tại, nước Mỹ không có cả hai yếu tố đó.

Nhưng lịch sử cũng chỉ ra những mặt hạn chế. Cứ xem những gì mà vài thập niên thế lực bên ngoài can thiệp vào Trung Đông mang lại là thấy. Sự sụp đổ của Đế chế Ottoman sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất kéo theo sự thay đổi biên giới các quốc gia trong một khu vực rộng lớn. Sự thay đổi này không nhằm đem lại tương lai tốt đẹp cho người dân ở đây mà chỉ nhằm thỏa mãn lợi ích của châu Âu (chủ yếu là Anh). Các nước Đồng minh đã phân chia biên giới, dựng lên các quốc gia – nhà nước và các vị quốc vương nhằm đảm bảo cho phương Tây dễ dàng tiếp cận nguồn dầu mỏ và kiểm soát kênh đào Suez.

Tuy nhiên, nước Anh chỉ thành công trên mặt biển mà thôi. Nhiều nhiệm vụ tỏ ra quá tốn kém, và sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nước Anh chìm ngập trong nợ nần đã đùn đẩy trách nhiệm cho nước Mỹ lúc này đang thèm muốn vị trí lãnh đạo thế giới. Mặc dù mục tiêu của Mỹ khác đôi chút so với mục tiêu của Anh, nhưng Chiến tranh Lạnh đã tạo điều kiện cho Washington che giấu những mục đích của mình. Mỹ gọi Tổng thống Mohammad Mossadegh là kẻ bịp bợm cộng sản để lí giải hành động lật đổ chính quyền của ông này, đồng thời còn gọi Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser là con rối trong tay Điện Kremlin chứ không phải là một người theo chủ nghĩa dân tộc A Rập. Ngoài ra, Washington còn đánh bóng hình ảnh của Israel như là thành lũy dân chủ cuối cùng đơn độc trong lòng các nước chuyên quyền được Liên Xô trang bị vũ trang.

Cuối thế kỉ hai mươi, tham vọng của Washington đã lớn lên trông thấy. Tuy nhiên, những hệ quả không mong đợi của một Đế chế Mỹ không chính thống, ban đầu chỉ là một giọt nước, đã nhanh chóng biến thành một cơn lũ quét. Có thể lấy một vài ví dụ điển hình như: Sự nổi lên của một nước Cộng hòa Hồi giáo Iran thù địch sâu sắc với Mỹ; tình hình bất ổn của Israel có xu hướng được giải quyết thông qua sử dụng vũ lực thô bạo và bất chấp hậu quả, sự nổi lên của chủ nghĩa chống Mỹ rộng khắp thế giới Hồi giáo, và việc nuôi dưỡng mầm mống của các tổ chức Hồi giáo cấp tiến được lập ra nhằm loại bỏ Mỹ ra khỏi khu vực, lật đổ các chính quyền tham nhũng và thống nhất thế giới Hồi giáo.

Tiếp đó là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Những khó khăn kinh tế sau đó ở Mỹ khiến nước này phải đưa các vấn đề trong nước lên ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự. Vì thế, Tổng thống Obama đã không đưa ra lời hứa hẹn nào về sự biến chuyển của thế giới Hồi giáo như người tiền nhiệm của ông đã từng làm, mà thay vào đó là cố gắng kéo nước Mỹ ra khỏi mớ hỗn loạn mà người Mỹ đã tạo ra nhiều thập niên trở lại đây. Tuy nhiên, những cố gắng này đã không mang lại mấy thành công.

Mặc dù vậy, thời điểm hiện nay thực sự là một cơ hội. Làn sóng nổi dậy tại thế giới Ả Rập cho Obama cơ hội tuyệt vời để định hình chiến lược của Mỹ ở Trung Đông. Đã có hai nhà lãnh đạo độc tài phải ra đi trong các cuộc nổi dậy vừa qua, nhiều nước khác trong khu vực cũng lo ngại về nguy cơ của làn sóng biểu tình. Điều này một lần nữa khẳng định những gì mà cuộc đối đầu của nhân dân chống lại các thầy tu Hồi giáo lãnh đạo Iran đã từng hé lộ, rằng hiện đại có một sức hút kì lạ, nhất là đối với thanh niên Hồi giáo. Trên một mức độ rất lớn, thanh niên ở Tunisia, Ai Cập, Bahrain, Lybia và Iran cũng mong muốn những gì mà thanh niên Mỹ, châu Âu và các nước khác ở phương Tây mong muốn: đó là tự do chính trị và cơ hội kinh tế. Nếu đem ra so sánh, lời kêu gọi sống ở thế kỉ 15 mà những người Hồi giáo cấp tiến vẫn hô hào còn kém hấp dẫn xa.

Nhưng việc tuyên bố những yêu cầu thay đổi này sẽ thực sự tạo ra điều gì chỉ là ý tưởng ngu ngốc mà thôi. Những cuộc cách mạng này sẽ thắng thế, tạo ra các thể chế giống như một nền dân chủ? Hay là nhà nước cai trị bằng quân đội, hoặc giả một dạng nào đó của chuyên quyền? Gạt qua một bên những dự đoán ấy, có một điều rất rõ ràng là xu hướng thúc đẩy ổn định thông qua loại bỏ giới tinh hoa phản đối dân chủ tồn tại từ lâu trong chính sách đối ngoại của Washington giờ tỏ ra không còn hiệu quả nữa. Đối với những quan chức Chính phủ Mỹ, trong một cuộc đấu giữa một bên là quá khứ ì trệ với một bên là tương lai bất định nhưng có hi vọng tốt đẹp hơn thì rủi ro của việc ủng hộ sự thay đổi thấp hơn nhiều so với nguy cơ của việc kìm hãm bánh xe lịch sử đang quay ngày càng nhanh qua Trung Đông.

Nhưng liệu hình ảnh của một siêu cường thế giới ngoảnh mặt làm ngơ thì trong sẽ như thế nào? Trích lời của Tổng thống Woodrow Wilson, Washington phải kiềm chế ham muốn can thiệp để không tự biến mình thành sen đầm chịu trách nhiệm “chỉ bảo cho người A Rập cách chọn ra người lãnh đạo tốt”. Nói một cách cụ thể, chính quyền Obama nên thực hiện những việc sau.

Thứ nhất, kết thúc cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố. Cuộc chiến này là không thích đáng khi những gì đang diễn ra là minh chứng rõ ràng cho khả năng tự biến đổi của thế giới A Rập. Điều này đồng nghĩa với việc hoàn thành rút lực lượng khỏi Iraq và khởi động quá trình rút quân khỏi Afghanistan. Việc Mỹ giảm hiện diện quân sự tại thế giới Hồi giáo chỉ mang lại những kết quả tích cực mà thôi.

Thứ hai, thể hiện sự ủng hộ nhất quán đối với các cuộc biểu tình của người dân A Rập, bất kể họ có theo một tôn giáo nào hay không. Và với mục tiêu đó, Washington cần chấp nhận ý muốn của số đông bất chấp việc điều đó có phù hợp với ý muốn của Mỹ hay không. Nguyên tắc ở đây là: những chính phủ do dân bầu ra đều được coi là chính đáng, không có ngoại lệ.

Tiếp đó, nếu một nền dân chủ tạo ra kết quả không phù hợp với ý muốn của Mỹ, thì hãy giúp đỡ quốc gia ấy phát triển một cách hào phóng. Sau rốt, Mỹ sẽ có tiền cho những việc làm như thế từ việc từ bỏ những cuộc chiến tranh không cần thiết. Cần nhấn mạnh một điểm là, khi xem xét tổng thể, các chương trình phát triển nên tập trung vào tạo ra cơ hội giáo dục cho thanh niên, viện trợ quân sự chỉ là thứ yếu. Giáo dục là lĩnh vực mà nước Mỹ có thể có những đóng góp ý nghĩa vào quá trình xây dựng đất nước, đào tạo kĩ sư, nhà khoa học, giáo viên, và nhân viên y tế, những người sẽ là động thực thúc đẩy phát triển thực sự. Sự nghiệp phát triển lâu dài ấy cần nhiều năm, nhiều thập kỉ mới có thể đơm hoa kết trái.

Ngoài ra, Mỹ cũng nên kín tiếng kêu gọi các nước đồng minh độc đoán và thiếu tự do của mình (như A Rập Xê Út chẳng hạn) nhận ra nhu cầu cấp bách phải cải cách trước khi quá muộn. Những nước đó có thể không nghe theo, nhưng rõ ràng là ủng hộ họ một cách mù quáng chỉ dẫn tới con đường cùng mà thôi.

Cuối cùng, Israel chắc chắn sẽ lo lắng trước tình hình bất ổn trong khu vực. Vậy nên hãy cho Jerusalem tấm chắn an ninh vững chắc, với điều kiện: việc lập nên nhà nước Palestine có đầy đủ chủ quyền được xem là lợi ích an ninh-quốc gia sống còn đối với Mỹ. Một nhà nước Palestine độc lập sẽ là tuyên bố hùng hồn rằng Mỹ ủng hộ sự tự biến chuyển của thế giới A Rập. Việc này cũng sẽ đạp tan bất cứ luận điệu nào mà Osma Bin Laden cũng như những kẻ cấp tiến Hồi giáo khác vẫn hô hào cho chiến dịch khủng bố của chúng.

Ít lâu sau vụ 11/9, trong khi đưa ra hàng loạt đòi hỏi không nhượng bộ với một quan chức cao cấp Pakistan, Richard Armitage đã nói rằng:”Lịch sử bắt đầu từ ngày hôm nay”. Lúc ấy Armitage là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, và thông điệp của ông này rất rõ ràng, rằng nước Mỹ đang đến. Mọi thứ sẽ thay đổi. Tuy nhiên, Armitage và chính quyền Mỹ lúc đó đã sai vài điểm. Người Mỹ đã đến nhưng vẫn không thực hiện được nhưh nững gì họ đã hứa. Bây giờ có vẻ như thời mà Armitage nói đã qua rồi.

Những thay đổi thực sự đang diễn ra như một tất yếu. Người dân của thế giới A Rập đang là những người cầm trịch trong việc tạo ra một Trung Đông mới, và chỉ có lần này họ mới có hi vọng tự mình làm điều đó. Từ những sai lầm trong quá khứ, những người Mỹ biết kiềm chế nên hiểu rằng nước Mỹ không thể quyết định những gì sẽ xảy ra tiếp theo đây. Vì lợi ích của nước Mỹ, và vì lợi ích của những người đang tham gia tranh đấu vì tự do và cơ hội cho chính họ, nước Mỹ nên đứng ngoài lề câu chuyện.

Andrew J. Bacevich hiện là giáo sư quan hệ quốc tế tại ĐH Boston. Tốt nghiệp Học viện Quân sự West Point năm 1969, Bacevich đã từng tham gia chiến tranh Việt Nam (1970-1971). Sau đó ông học Tiến sĩ về Lịch sử Ngoại giao Hoa Kỳ tại ĐH Princeton. Andrew Bacevich đã từng giảng dạy tại West Point và ĐH Johns Hopkins trước khi về giảng dạy tại ĐH Boston năm 1998. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về chính sách đối ngoại Mỹ như: Cuộc chiến tranh kéo dài: Lịch sử chính sách an ninh quốc gia Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (NXB ĐH Columbia, 2007); Đế chế Mỹ: Sự thực và Hệ quả của Chính sách đối ngoại Mỹ (NXB ĐH Harvard, 2004); Chủ nghĩa Quân sự mới của Mỹ: Chiến tranh cám dỗ người Mỹ như thế nào? (NXB ĐH Oxford, 2005). Cuốn sách gần đây nhất của ông là Các quy tắc Washington: Con đường của Mỹ tới chiến tranh (NXB Macmillan, 2010). Ngoài ra ông còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí có tiếng về chính trị và quan hệ quốc tế.

Để lại lời bình

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s